Trong bất cứ mối quan hệ pháp luật nào, từ các vụ án Dân sự, Hình sự, Hành chính cũng đều được xét đến các yếu tố (4 yếu tố) cấu thành: Chủ thể, Khách thể, Chủ quan, Khách quan. 

 

Trong bất cứ quan hệ Pháp luật nào (Dân sự, Hình sự, Hành chính) cũng xem xét 4 yếu tố:

1/Chủ thể

2/khách thể

3/chủ quan

4/khách quan.

Tuy nhiên,

-Trong Hình sự thì 4 yếu tố cấu thành này đặc biệt quan trọng vì liên quan đến thân phận pháp lý của 1 con người nếu liên quan đến 1 vụ án- phải chịu Hình phạt (tiền án).

-Hành chính thì chỉ Xử phạt: Xử phạt hành vi vi phạm HC thông thường (không phải là tiền sự) và Hành vi vi phạm nguy hiểm nhưng chưa đến mức xử lý hình sự (tiền sự),

 -Dân sự thì điều chỉnh quan hệ về Tài sản, nhân thân.

 Nội dung chi tiết:

I/CHỦ THỂ: Trong BLDS quy định 2 nhóm chủ thể : Cá nhân và pháp nhân

1/Chủ thể là cá nhân

A.    Năng lực theo tuổi: 

STT Tuổi Dân sự Cơ sở Pháp lý
1 Thành thai TN: Không;
QL: Khả năng hưởng thừa kế nếu sinh ra còn sống.
Khoản 1, Điều 660 - BLDS
2 Từ lúc sinh đến dưới 6t NLPL: Đã có.
NLHV: Chưa có.
Do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực hiện. (K.2, Đ.21)
3 Từ đủ 6t đến chưa đủ 15t NLPL: Đã có.
NLHV: Hạn chế.
Phải được người đại diện theo pháp luật đồng ý, trừ giao dịch phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. (K.3, Đ.21)
4 Từ đủ 15t đến chưa đủ 18t NLPL: Đã có.
NLHV: Hạn chế 1 phần.
Tự mình xác lập giao dịch, trừ giao dịch liên quan BĐS, động sản phải đăng ký... cần người đại diện đồng ý. (K.4, Đ.21)
Người dưới 18t thì bình thường hay mất năng lực, khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi đều cần người đại diện theo pháp luật. Cha mẹ là người đại diện đương nhiên.
Từ đủ 18 tuổi trở lên
5 Từ đủ 18t trở lên (bình thường) NLPL & NLHV: Đầy đủ. Điều 20; có thể có người đại diện theo ủy quyền.
6 Mất năng lực hành vi dân sự NLPL: Tồn tại.
NLHV: Mất.
Phải được Tòa tuyên. Giao dịch do người đại diện theo pháp luật thực hiện. (Điều 22)
7 Khó khăn trong nhận thức NLPL: Tồn tại.
NLHV: Khó khăn.
Tòa tuyên, chỉ định người giám hộ. Giao dịch do người giám hộ thực hiện cùng người giám sát. (Điều 23)
8 Hạn chế năng lực hành vi NLPL: Tồn tại.
NLHV: Bị hạn chế.
Tòa tuyên, quyết định người đại diện. Giao dịch tài sản phải có sự đồng ý của người đại diện. (Điều 24)

 

B.    Người đại diện theo Pháp luật, người giám hộ, giám sát. 

Đến đây, có 2 khái niệm cần làm rõ:

(i)- Người đại diện theo pháp luật;

(ii)- Người giám hộ, giám sát. 

Lưu ý:

ØKhi trẻ dưới 18t mà bị tâm thần, bị khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, bị nghiện ngập: pháp luật DS không quy định è không áp dụng các Đ.22, 23, 24 và trẻ được xem như bị Yếu.

 +Nếu cha/mẹ còn sống thì cha/mẹ Người đại diện theo pháp luật và xem con cái dưới 18t Mạnh – Yếu như nhau (không phân biệt).

 +Vậy giải quyết thế nào nếu cha, mẹ đã chết (*)? 

(i)- Người đại diện theo pháp luật;

Điều 136. Đại diện theo pháp luật của cá nhân

1. Cha, mẹ đối với con chưa thành niên.

2. Người giám hộ đối với người được giám hộ. Người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi là người đại diện theo pháp luật nếu được Tòa án chỉ định.

3. Người do Tòa án chỉ định trong trường hợp không xác định được người đại diện quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

4. Người do Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

ØĐến đây, không thấy quy định cụ thể về Người mất năng lực hành vi theo Đ.22 è áp dụng khoản 3, Đ.136. è Tòa chỉ định người giám hộ .

-Khoản 3, Đ.136: có nói đến khoản 1 và 2:

+Đối với khoản 1: Con chưa thành niên mà không xác định được người đại diện là những trường hợp nào? (**)

+Đối với khoản 2: Tại sao lại quy định trong trường hợp không xác định được người đại diện ? (***)

 

Xem xét quy định sau:

Điều 47. Người được giám hộ

1. Người được giám hộ bao gồm:

a) Người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc không xác định được cha, mẹ;

b) Người chưa thành niên có cha, mẹ nhưng:

-b1. cha, mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự;

-b2. cha, mẹ đều có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi;

-b3. cha, mẹ đều bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;

-b4.cha, mẹ đều bị Tòa án tuyên bố hạn chế quyền đối với con;

-b5. cha, mẹ đều không có điều kiện chăm sóc, giáo dục con và có yêu cầu người giám hộ; (vận dụng quy định này khi cha or mẹ chết/mất năng lực hành vi).

è như vậy là đã giải thích được (*)(**). Nếu không có người đại diện theo Pháp luật đương nhiên thì xem xét đến người giám hộ đương nhiên (mục C phía dưới).

c) Người mất năng lực hành vi dân sự;

d) Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.

2. Một người chỉ có thể được một người giám hộ, trừ trường hợp cha, mẹ cùng giám hộ cho con hoặc ông, bà cùng giám hộ cho cháu.

èỞ đây cũng không nói đến trường hợp người bị hạn chế NLHV theo Đ.24 (****)

 

Giải thích (***):

-Không phải mọi trường hợp Giám hộ đều do Tòa án chỉ định.

-Có 3 loại giám hộ : Giám hộ chọn, giám hộ cử, và giám hộ chỉ định. Sắp xếp theo thứ tự ưu tiên sau:

+ Giám hộ chọn : Khoản 2, Đ.48. Khi không có thì

+ Giám hộ cử: có 2 cách, nhưng cách nào cũng đều do UBND Phường/xã ra quyết định: Khi người giám hộ đăng ký giám hộ ở UBND cấp xã hoặc khi UBND cấp xã cử người giám hộ.

Theo khoản 3, Đ.46 về giám hộ :

Việc giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về hộ tịch.

Người giám hộ đương nhiên (C) mà không đăng ký việc giám hộ thì vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của người giám hộ.

 

+Giám hộ chỉ định: Khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức.

CSPL: Điều 46. Giám hộ

 

Giải thích (****):

-Do giao dịch dân sự vẫn phải do người đó (người bị hạn chế NLHV) thực hiện, còn người giám hộ chỉ là thứ yếu, với vai trò là giám sát, làm chứng thì đúng hơn.

 

C. Giám hộ đương nhiên:

Điều 52. Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên

Người giám hộ đương nhiên của người chưa thành niên xác định theo thứ tự sau đây:

1. Anh ruột là anh cả hoặc chị ruột là chị cả là người giám hộ; nếu anh cả hoặc chị cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì anh ruột hoặc chị ruột tiếp theo là người giám hộ, trừ trường hợp có thỏa thuận anh ruột hoặc chị ruột khác làm người giám hộ;

2. Ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại là người giám hộ hoặc những người này thỏa thuận cử một hoặc một số người trong số họ làm người giám hộ;

3. Bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột hoặc dì ruột là người giám hộ.

Điều 53. Người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự

Trường hợp không có người giám hộ theo quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này thì người giám hộ đương nhiên của người mất năng lực hành vi dân sự được xác định như sau:

1. Trường hợp vợ là người mất năng lực hành vi dân sự thì chồng là người giám hộ; nếu chồng là người mất năng lực hành vi dân sự thì vợ là người giám hộ;

2. Trường hợp cha và mẹ đều mất năng lực hành vi dân sự hoặc một người mất năng lực hành vi dân sự, còn người kia không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con cả là người giám hộ; nếu người con cả không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì người con tiếp theo có đủ điều kiện làm người giám hộ là người giám hộ;

3. Trường hợp người thành niên mất năng lực hành vi dân sự chưa có vợ, chồng, con hoặc có mà vợ, chồng, con đều không có đủ điều kiện làm người giám hộ thì cha, mẹ là người giám hộ.

Nếu cũng không có nữa thì:

Điều 54. Cử, chỉ định người giám hộ

1. Trường hợp người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.

Trường hợp có tranh chấp giữa những người giám hộ quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này về người giám hộ hoặc tranh chấp về việc cử người giám hộ thì Tòa án chỉ định người giám hộ.

Trường hợp cử, chỉ định người giám hộ cho người chưa thành niên từ đủ sáu tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của người này.

2. Việc cử người giám hộ phải được sự đồng ý của người được cử làm người giám hộ.

3. Việc cử người giám hộ phải được lập thành văn bản, trong đó ghi rõ lý do cử người giám hộ, quyền, nghĩa vụ cụ thể của người giám hộ, tình trạng tài sản của người được giám hộ.

4. Trừ trường hợp áp dụng quy định tại khoản 2 Điều 48 của Bộ luật này, người giám hộ của người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi do Tòa án chỉ định trong số những người giám hộ quy định tại Điều 53 của Bộ luật này. Trường hợp không có người giám hộ theo quy định trên, Tòa án chỉ định người giám hộ hoặc đề nghị một pháp nhân thực hiện việc giám hộ.

èNghĩa là: người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sẽ không có người giám hộ đương nhiên mà cũng không có giám hộ cử. Mà Phải do Tòa án chỉ định.

Do quy định rất ư là rắc rối, nên chỉ cần nhớ như sau:

Chốt lại:      

1.      Đối với con chưa thành niên (con bình thường hoặc bất thường):

a) Cha, mẹ là đại diện pháp luật (đương nhiên).

b) Trường hợp cha, mẹ chết, hoặc cha, mẹ mất năng lực hành vi, do bị hạn chế quyền...hoặc có cũng như không: Lúc này phát sinh giám hộ theo thứ tự ưu tiên sau:

-Giám hộ đương nhiên; nếu không có sẽ

-Giám hộ cử; hoặc

-Giám hộ chỉ định nếu có tranh chấp về người giám hộ.

2.      Đã thành niên:

a)     Nếu bình thường thì không cần giám hộ, giám sát. Tự quyết định mọi giao dịch, có thể ủy quyền cho người khác làm đại diện (trừ 1 đến 2 quan hệ)

b)     Lúc đầu bình thường, sau đó mới bị mất năng lực; hạn chế năng lực; khó khăn trong điều khiển hành vi: Nếu có chọn giám hộ theo K.2, Đ.48 thì lúc này người giám hộ chọn được ưu tiên.

c)      Khi phát sinh yêu cầu giám hộ mà chưa có Giám hộ chọn thì có 3 dạng sau:

-Mất năng lực hành vi: ưu tiên giám hộ đương nhiên àgiám hộ cử àGiám hộ chỉ định nếu có tranh chấp.

-Khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi:  Tòa chỉ định người giám hộ, xác định quyền, nghĩa vụ của người giám hộ nhưng sẽ ưu tiên chỉ định người thuộc nhóm giám hộ đương nhiên trước.

-Hạn chế năng lực hành vi: Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật và phạm vi đại diện.

2/Chủ thể là pháp nhân:

A.    Thế nào là pháp nhân: Xem Đ.74 BLDS

Theo đó, pháp nhân có thể hiểu là 01 tổ chức đáp ứng đủ các điều kiện sau:

[1] Được thành lập theo quy định của pháp luật dân sự;

[2] Có cơ cấu tổ chức;

[3] Có tài sản độc lập với cá nhân, với pháp nhân khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình;

[4] Nhân danh mình tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập.

B. Những tổ chức không phải là pháp nhân:

1/Dù có con dấu, được thành lập theo PL:

-Văn phòng luật sư (Việc khách hàng ủy quyền cho VPLS xử lý thế nào)

-Doanh nghiệp tư nhân;

2/Nhóm tập họp nhiều người :

-Hộ gia đình.

-Tổ hợp tác.

 

Do pháp luật DS chỉ quy định 2 nhóm chủ thể nên để dễ nhớ và phân loại áp dụng, chúng ta lưu ý: Nếu không phải là Pháp nhân thì còn lại là Cá nhân ( hoặc những cá nhân).

-Pháp nhân thì đã có người đại diện theo PL và có con dấu;

-Còn cá nhân thì phải tự mình thực hiện, nếu không thì phải ủy quyền cho người khác hoặc pháp nhân khác thực hiện. Nếu 1 nhóm nhiều cá nhân thì mỗi người tự ủy quyền hoặc ủy quyền chung cho người khác hoặc pháp nhân khác thực hiện.

 

3/Lưu ý:

-Một người có thể đóng 3 vai trò trong 1 quan hệ pháp luật dân sự:

1. Đại diện chính mình (tự mình thực hiện nếu có đủ tuổi, đủ Năng lực PL và Năng lực hành vi )

2. Đại diện theo ủy quyền cho người khác, pháp nhân khác;

3. Đại diện theo pháp luật cho pháp nhân; đại diện theo pháp luật cho cá nhân nếu cá nhân là con của mình dưới 18 tuổi.