Trong vấn đề giải quyết vụ kiện liên quan đến Hôn nhân và Gia đình, cần chú ý đến các quan hệ sau để giải quyết triệt để vụ án.
I/ QUAN HỆ HÔN NHÂN:
Nếu đề thi cho dữ liệu 2 người là Vợ - Chồng thì xem như có tồn tại quan
hệ Hôn nhân hợp pháp (có giấy đăng ký kết hôn hoặc có tài liệu chứng minh Hôn
nhân thực tế)
Không đặt giả định ngược lại.
Nếu đề thi cho 2 người sống chung như Vợ - chồng
thì không tồn tại quan hệ hôn nhân, trừ khi cho thêm dữ liệu ở với nhau trước ngày 03/01/1987; lúc này được xác định
là hôn nhân thực tế.
Nếu sống chung như vợ chồng sau ngày 03/01/1987
mà không đăng ký Kết hôn thì không phải là Vợ - chồng.
a)-Có giấy kết hôn hợp pháp.
-Lưu ý: Luật HN-GĐ quy định chế độ 1
vợ - 1 chồng.
Đăng ký kết hôn
1. Việc kết hôn phải được đăng ký và do
cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp
luật về hộ tịch.
Việc kết hôn không được đăng ký theo quy
định tại khoản này thì không có giá trị pháp lý.
Giấy đăng ký kết hôn hợp pháp là do
Cơ quan có thẩm quyền cấp (UBND cấp xã, huyện, tỉnh; Cơ quan đại diện ngoại
giao của VN như : Đại sứ quán, lãnh sự quán, Văn phòng kinh tế - Văn hóa (nếu không có Cơ quan đại diện).
Công
nhận Hôn nhân thực tế = như có đăng ký kết hôn hợp pháp nếu giữa 2 người sống
chung trước ngày 03/01/1987.
Nếu đã có đăng ký kết hôn/hay có
hôn nhân thực tế mà người phối ngẫu vẫn còn sống thì những Giấy đăng ký kết hôn
lập sau sẽ bị Hủy vì kết hôn trái PL.
Hôn nhân hợp pháp : Thỏa mãn Điều kiện kết hôn
1. Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân
theo các điều kiện sau đây:
a) Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18
tuổi trở lên;
b) Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện
quyết định;
c) Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
d) Việc kết hôn không thuộc một trong các
trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật này.
2. Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa
những người cùng giới tính.
b)-Sống chung như vợ chồng trước 03/01/1987
: Thừa nhận là Hôn nhân
thực tế (là VC)
Điều kiện: - Đang sống chung với nhau và từ trước
ngày 03/01/1987;
-
Nếu không còn sống chung với nhau
nhưng chưa yêu cầu Tòa tuyên KHÔNG CÔNG NHẬN HÔN NHÂN thì vẫn đang tồn tại hôn
nhân;
-
Nếu không còn sống chung với nhau
nhưng mỗi người đã kết hôn với người khác thì xem như chấm dứt Hôn nhân thực tế
(xem án lệ số 41/2016);
|
NỘI DUNG ÁN LỆ “[3] Xét bà Tô Thị T2 chung
sống với ông T1 không đăng ký kết hôn, đến năm 1982 bà T2 đã bỏ vào Vũng Tàu lấy ông D có con chung từ đó đến nay quan hệ hôn nhân thực tế
giữa ông T1 với bà T2 đã chấm dứt từ lâu nên không còn nghĩa vụ gì với nhau
nên bà T2 không được hưởng di sản của ông T1 để lại như án sơ thẩm xử là
đúng. [4] Xét sau khi bà T2 không còn
sống chung với ông T1 thì năm
1985 ông T1 sống chung với bà S cho đến khi ông T1 chết có 1 con chung, có tài sản chung hợp pháp, án sơ thẩm
công nhận là hôn nhân thực tế nên được chia tài sản chung và được hưởng di
sản thừa kế của ông T1 là có căn cứ” |
|
NỘI
DUNG ÁN LỆ “[2] Căn cứ Biên bản xác minh ngày 13/11/2014 của Ủy ban nhân
dân phường P và lời khai của những người làm chứng, trong đó có lời khai của
ông Bùi Ngọc C (người cao tuổi, hàng xóm bên cạnh nhà bố mẹ đẻ bà S), ông
Nguyễn Văn N (Khu trưởng Khu T, phường P) đều khai: Năm 1980, ông Phạm Bá H
và bà Nguyễn Thị S có tổ chức đám cưới, chung sống với nhau; sau đó, hai ông
bà vượt biên. [3] Tại Bản chứng thực bản sao số khai sinh của anh
Phạm Hồng K, sinh ngày 07/8/1981, thể hiện tên cha là Phạm Bá H và tên mẹ là
Nguyễn Thị S. Như vậy, có cơ sở xác định bà S và ông H có thời gian
chung sống tại Việt Nam và bà S sang Hồng Kông sau khi đã mang thai anh Phạm
Hồng K. [4] Ngoài ra, Bản sao sổ hộ khẩu số 500296496 do Công an thành
phố M cấp ngày 03/11/2014 và Hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 13/4/2015
tại Phòng Công chứng số 02 tỉnh Quảng Ninh cũng thể hiện ông Phạm Bá H có vợ là bà Nguyễn Thị S.… [8] Do đó, có cơ sở xác định quan hệ giữa bà S và ông H sống chung với nhau như vợ
chồng trước năm 1987 là hôn nhân thực tế; tuy không đăng ký kết hôn
nhưng vẫn được pháp luật công nhận là quan hệ vợ chồng. [9] Việc ông H đăng ký kết hôn với bà Nguyễn Thị L theo Giấy
chứng nhận kết hôn số 09
ngày 17/4/2017 tại Ủy ban nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh trong khi đang tồn tại quan hệ hôn nhân
với bà Nguyễn Thị S là vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng và quy
định tại điểm c khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Ủy ban
nhân dân thành phố M, tỉnh Quảng Ninh thực hiện việc đăng ký kết hôn cho ông
H và bà L là không đúng quy định của pháp luật. [10] Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà S, tuyên hủy việc kết hôn trái
pháp luật giữa ông H và bà L và giải quyết hậu quả của việc kết hôn
trái pháp luật là có căn cứ. [11] Tòa án cấp phúc thẩm nhận định: “Theo pháp luật hôn nhân
và gia đình Việt Nam năm 1987, năm 2000 và năm 2013 chỉ điều chỉnh và có hiệu
lực về không gian, thời gian và địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam. Còn việc ông
H và bà S ăn ở với nhau bất hợp pháp chủ yếu là ở nước ngoài và sinh sống vào
thời điểm ở trước và sau năm 1987, năm 2000 và trước năm 2013 khi có Luật hôn
nhân và gia đình Việt Nam được ban hành, sửa đổi...” từ đó không công nhận
quan hệ giữa ông H và bà S là vợ chồng và công nhận quan hệ hôn nhân giữa ông
H và bà L là quan hệ hôn nhân hợp pháp là
không đúng quy định pháp luật.” |
-Nếu đang tồn tại hôn nhân thực tế thì UBND cấp xã sẽ không cấp Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân (Độc thân). Nếu không muốn tồn tại quan hệ này và muốn được xác nhận độc thân phải yêu cầu Tòa án tuyên không công nhận hôn nhân thực tế (không công nhận là vợ chồng).
c)- Sống chung như vợ chồng sau ngày 03/1/1987 trở về đây nhưng sau đó không đăng ký kết hôn thì KHÔNG CÔNG NHẬN LÀ VỢ CHỒNG.
Lưu ý: Tranh chấp về hôn nhân (ly hôn) thì KHÔNG ĐƯỢC ỦY QUYỀN theo khoản 4, Đ.85 BLTTDS, nhưng Luật sư tham gia bảo vệ thì được;
d)Ly hôn: Khi
hôn nhân không hạnh phúc, không đạt được mục đích à Ly hôn. Có thể thuận tình ly hôn hay
tranh chấp ly hôn.
Cơ
quan giải quyết ly hôn là Tòa án – Điều 28, 29 BLTTDS. (Only).
Ban đầu là tranh chấp , sau đó lại
thuận tình à Tòa ra Quyết định công nhận sự thỏa
thuận các đương sự (nếu chỉ 1 tranh chấp); Nếu nhiều tranh chấp thì đề nghị
Tòa/HĐXX ghi nhận sự thuận tình ly hôn.
Nếu thuận tình mà Hòa giải đoàn tụ
không được thì ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của
các đương sự - K4, Điều 397 BLTTDS;
Ban đầu là thuận tình (yêu cầu dân sự) nhưng sau đó tranh chấp (bất kỳ tranh chấp nào) à trở thành Vụ án à Tòa án phải ra Bản án để giải quyết ly hôn và các tranh chấp khác. Nếu chỉ có ly hôn là thuận tình, nhưng vẫn còn các tranh chấp khác thì Tòa vẫn ra Bản án : Ghi nhận sự thuận tình ly hôn và giải quyết các tranh chấp – K5. Đ.397 BLTTDS.
II/ QUAN HỆ CHA-CON, MẸ-CON:
a)- Vợ chồng có đăng ký kết hôn hoặc
Hôn nhân thực tế: Gọi
là thời kỳ hôn
nhân
-Con sinh ra trong thời kỳ này được
xem là con chung (dù có thể không phải con ruột của chồng, có thể là xin tinh
trùng hay con của bồ ).
-Con sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ
ngày người chồng chết, ly hôn cũng được xem là con chung;
-Người chồng có quyền không nhận con được không (không phải là
con ruột) ? Được, nhưng phải yêu cầu Tòa án tuyên đứa trẻ đó không
phải là con ruột của người chồng.
--Người chồng có quyền nhận con của mình với người không phải là vợ không? Được, nhưng phải chứng minh mình là cha ruột của trẻ (xét nghiệm ADN). Thủ tục nhận cha – con do UBND cấp xã thực hiện nếu không có tranh chấp.
b)- Sống chung với nhau như vợ chồng hoặc ở chung với nhau dẫn đến có con
chung:
B1-Người mẹ phải
độc thân:
-Người cha phải làm thủ tục nhận cha
– con thì mới ghi tên người cha vào khai sinh; Nếu không thì chỉ có tên người mẹ
trong khai sinh..
-Thủ tục: Cần có xét nghiệm DNA hoặc
được ông bà nội ngoại của đứa trẻ thừa nhận…
B2-Người mẹ đang
tồn tại 1 hôn nhân hợp pháp với ông A:
-Nguyên tắc đứa trẻ sinh ra trong thời
kỳ hôn nhân được xem là con chung của vợ chồng, khi làm khai sinh sẽ ghi nhận người
chồng hợp pháp A là cha của trẻ (dù có thể A không phải là cha ruột).
+Nếu người chồng hợp pháp A không đồng
ý việc đứng tên mình trong khai sinh của trẻ thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên
đứa trẻ không phải là con ruột. Nếu có người khác B nhận là cha ruột của đứa trẻ
thì có thể áp dụng thủ tục hành chính; nếu có tranh chấp thì phải có bản án của
Tòa về xác nhận cha – con.
+Nếu cha ruột B muốn khai sinh của trẻ
có tên mình được không ? Được, khi thỏa mãn 2 điều kiện:
(i)
Người
mẹ chấm dứt quan hệ hôn nhân hợp pháp với chồng A.
Vì nếu còn hôn nhân này thì không có cán bộ hộ tịch nào dám cấp khai sinh cho
trẻ (trừ khi cấp đứng tên 1 mình người mẹ)
(ii)
Người
chồng A xác nhận đứa trẻ không phải là con mình (thủ tục hành chính) và người
cha ruột B chứng minh mình là cha đưa bé (ADN) và làm thủ tục nhận cha – con.
Nếu Người chồng A bỏ đi,
không xác nhận gì thì phải yêu cầu Tòa tuyên B -người có ADN giống với trẻ là
cha thì lúc đó mới ghi nhận vào khai sinh.
c)-Tranh chấp quyền nuôi con: NGUYÊN
TẮC: bảo đảm quyền lợi tốt nhất cho trẻ.
Quyền lợi đó là gì ?
+Điều
kiện về kinh tế : Thu nhập cao hơn (nếu thấp hơn thì phải đủ cho gia đình); có
nhà ở (có nơi học tập, sinh hoạt); Có phương tiện đưa đón con đi học;
+Điều kiện học tập, sinh hoạt : ổn định,
thuận tiện.
+Điều kiện về tâm , sinh lý: ổn định,
thoải mái.
-Con trên 7
tuổi thì phải hỏi ý kiến của con muốn sống chung với ai; nhưng chỉ là
tham khảo chứ không phải trẻ muốn thế nào thì Tòa tuyên như vậy. Quan trọng là
sống với ai thì sẽ tốt cho trẻ hơn;
-Con dưới 36
tháng tuổi: Ưu tiên giao cho mẹ nuôi, TRỪ trường hợp người mẹ đã bỏ đi,
không chăm nuôi trẻ trong thời gian dài.
-Việc tranh chấp quyền nuôi con này
không bị giới hạn số lần khởi kiện cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi.
-Nếu có 02 con chung thì khuynh hướng giao cho mỗi người
nuôi 1 cháu, TRỪ khi người nào có điều kiện kinh tế khó khăn, nơi cư trú, học tập
của trẻ bị hạn chế hoặc bị tước quyền làm cha, mẹ thì mới giao cho người còn lại
nuôi cả 2; trừ khi 2 bên thỏa thuận 1 người nuôi cả 2;
-Nếu chỉ có 1 con là bé gái thì khi trên 36 tháng tuổi, người cha có thể giành quyền nuôi con khi có cơ sở chứng minh người mẹ đang có tình nhân hoặc kết hôn vì: con gái riêng của vợ sống chung với cha dượng không an toàn.
III/ QUAN HỆ VỀ TÀI SẢN VỢ CHỒNG: Nguyên
tắc: Nếu không chứng minh được tài sản riêng thì đó là
tài sản chung.
a)- Tài sản riêng của vợ - chồng: theo thỏa thuận hoặc theo quy định PL
(i). Tài sản hình thành trước thời kỳ
hôn nhân;
(ii). Tài sản được hưởng thừa kế
trong thời kỳ hôn nhân;
(iii). Tài sản được tặng cho riêng
trong thời kỳ hôn nhân; (người khác cho hay vợ/chồng tặng cho nhau);
(iv). Tài sản được người phối ngẫu
xác nhận là tài sản riêng (dù có thể là tài sản chung)
(v).
Tài sản chung được chia trong thời kỳ hôn nhân;
b)- Tài sản chung của vợ - chồng:
-Tài sản của vợ/chồng có trước thời kỳ
hôn nhân nhưng sau đó đưa tên người còn lại vào đứng tên chung trên GCN: được
hiểu là người có tài sản tặng cho người kia nên trở thành tài sản chung: khoản
1, Điều 33 Luật HN-GĐ
Hành vi này có thể gồm:
+Đất
có riêng nhưng sau đó kết hôn, cùng nhau xây nhà và đưa tên vợ/chồng vào đứng
tên chung. Nếu đất được thừa kế, tặng cho riêng thì có thể chỉ chia tài sản là
Nhà;
+Nhà,
đất mua riêng trước thời kỳ hôn nhân nhưng chưa cấp GCN, sau đó kết hôn và khi
làm thủ tục cấp GCN thì đưa tên người phối ngẫu vào à Tài sản chung;
-Tài sản hình thành trong thời kỳ hôn
nhân nhưng chỉ đứng tên 1 người, nếu không thuộc các trường hợp theo mục a phía
trên thì đây là tài sản chung;
c) Định đoạt tài sản chung:
-Phải 2 vợ chồng cùng định đoạt thì giao
dịch đó mới hợp pháp, không vô hiệu do không vi phạm quyền sở hữu. Còn vi phạm
quyền sở hữu thì giao dịch đó vô hiệu à Điều 35 Luật NH và GĐ .
-Nếu tài sản có 2 người cùng đứng
tên: giao dịch mà chỉ có 1 người ký là vô hiệu.
-Nếu tài sản chỉ có 1 người đứng tên:
giao dịch có 1 người đứng tên ký chỉ vô hiệu khi người còn lại không biết về giao dịch ( không biết
việc 2 bên ký kết, không biết về việc giao tài sản, không biết về nguồn tiền
thu về . . .). Nếu biết
thì giao dịch đó không vô hiệu dù không tham gia ký tên. (Xem AL 04.2016)
Lưu ý:
-Giao dịch dân sự gồm: Chuyển đổi, chuyển nhượng,
mua-bán, thừa kế, tặng cho, thế chấp, cầm cố, góp vốn.
-Nếu 2 người cùng đứng tên tài sản
nhưng không phải là vợ - chồng thì xem như hai đồng sở hữu góp vốn mua chung.
Khi giao dịch liên quan đến tài sản này thì phải có Giấy kết hôn, nếu không có
thì phải có Giấy chứng nhận độc thân.
-Nếu chỉ sống chung như vợ chồng và
đưa tiền cho một người đứng tên thì sao ? Tài sản riêng của người đứng tên, trừ
khi có thỏa thuận góp vốn.
d)Tranh chấp chia tài sản chung:
-Tranh chấp nhưng không ly hôn: Tranh
chấp chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân. Nếu không tranh chấp
thì tự ra VPCC chia theo hình thức tặng cho nhau. Nếu có tranh chấp thì Tòa án
giải quyết.
-Tranh chấp kèm ly hôn: Tranh chấp
chia tài sản vợ chồng khi ly hôn.
+Nguyên tắc: Nếu không thỏa thuận về tỷ lệ góp (văn bản), không chứng
minh công sức đóng góp thì chia đều 5 : 5.
Nếu chứng minh được công sức đóng hay thỏa thuận 1 tỷ lệ khác thì theo đó mà Tòa phán quyết một tỷ lệ khác.
IV/ QUAN HỆ VỀ NỢ của VỢ CHỒNG: Nguyên tắc: Nếu không chứng minh được khoản vay là nợ chung thì đó là nợ
riêng.
-Khi vay tài sản phải có 2 vợ chồng
cùng ký tên bên vay;
-Nếu chỉ 1 người ký tên vay thì người
đó có nghĩa vụ chứng minh là NỢ CHUNG. Nếu không chứng minh được là nợ chung
thì xem đó là nợ riêng;
-Việc chứng minh là nợ chung khi chỉ
1 người đứng tên vay có thể thông qua các chứng cứ sau :
+Khi
giao dịch vay tiền: người kia có đi cùng, biết nhưng do không yêu cầu ký nên
không ký.
+Sau khi vay tiền:
Biết nguồn tiền này là tiền đi vay dù
không tham gia vay, không ký tên thì được xem là nợ chung;
Biết
giao dịch vay tiền về để thực hiện 1 việc chung: sửa nhà, mua xe, cho con đi học.
. . thì được xem là nợ chung.
+Không tham gia giao dịch, không biết về giao dịch, không biết về nguồn tiền NHƯNG sau đó biết mà không phản đối, không thông báo cho Bên cho vay biết thì có thể được xem là nợ chung. Vậy, trong trường hợp này để chứng minh đây là nợ riêng thì phải phản đối người đi vay khi dùng tiền đó vào việc riêng; Thông báo đến Bên cho vay biết đó là vay riêng nên sẽ không có nghĩa vụ trả nợ (Nên thông báo bằng văn bản, có người làm chứng…)
V: Khởi kiện hoặc yêu cầu liên quan đến hôn
nhân gia đình:
-Có 4 nhóm quan hệ PL chính trong hôn
nhân gia đình nêu trên:
àCó thể khởi kiện cùng lúc 4 quan hệ PL này nếu có tranh chấp; Có thể khởi kiện riêng từng
tranh chấp:
+ Chỉ Khởi kiện riêng khi: ly hôn hoặc tranh chấp chia tài sản chung;
+ Phải khởi kiện chung: Quyền nuôi con, cấp dưỡng + Ly hôn. Nếu đã ly
hôn rồi thì được kiện riêng.
+Nợ chung: kiện chung hoặc kiện riêng khi đã ly hôn.
àKhởi kiện Ly hôn có chia tài sản chung là BĐS : Thẩm quyền thuộc Tòa án nơi bị đơn cư trú theo hướng dẫn của
HĐTP Tòa án Tối cao. Không áp dụng Tòa án nơi có BĐS theo điểm c, Khoản 1, Đ.39
BLTTDS kể cả trong thời kỳ hôn nhân hay sau khi ly hôn.
àCó thể yêu cầu Tòa án giải quyết thuận tình ly hôn, thuận tình về nuôi con, cấp dưỡng, thuận tình về chia TS chung, nợ chung. Tuy nhiên, nếu chỉ cần 1 yêu cầu có tranh chấp thì Tòa án sẽ chuyển sang thành vụ án và ra Bản án (Đ.397 BLTTDS)
Lưu ý:
(1) Về khởi kiện ly hôn: nếu Tòa bác đơn
KK thì trước đây quy định được nộp lại đơn sau 1 năm (Nghị quyết 02/2000 của
TANDTC); Hiện nay thì cho phép nộp đơn KK lại ngay. (Nghị
quyết 01/2024 của HĐTP TAND Tối cao có hiệu lực từ 1-7 không còn hướng dẫn việc
hạn chế quyền giải quyết yêu cầu ly hôn sau khi đã bị bác đơn).
(2) Người chồng không được khởi kiện ly hôn khi vợ đang mang thai, đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, bất kể đứa trẻ là con ai (khoản 3 Đ.51 Luật HN và GĐ 2014)
(3) Nếu người vợ khởi kiện ly hôn hoặc 2
VC yêu cầu thuận tình ly hôn thì không hạn chế quy định trên (Đ.55 Luật HN và
GĐ).
(4) Tranh chấp quyền nuôi con, cấp dưỡng:
không hạn chế quyền khởi kiện cho đến khi trẻ đủ 18 tuổi.
