Hiểu thế nào là Thẩm quyền theo lãnh thổ đối với “đối tượng tranh chấp là bất động sản” theo Điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật TTDS 2015...?
![]() |
I. Khái
niệm bất động sản.
Pháp luật dân sự hiện hành không đưa ra
định nghĩa về BĐS mà chỉ liệt kê các tài sản là BĐS. Theo khoản 1 Điều 107 Bộ
luật Dân sự năm 2015, BĐS bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn
liền với đất đai; Tài sản khác gắn liền với đất đai, nhà, công trình xây dựng;
Tài sản khác theo quy định của pháp luật
II.Đối
tượng tranh chấp là bất động sản và thẩm quyền của Tòa án đối với các tranh
chấp có đối tượng là bất động sản.
1) Tranh
chấp có đối tượng là đất đai/BĐS.
Có thể xác định một số loại tranh chấp có đối tượng là BĐS như sau:
-Tranh chấp có đối tượng là đất đai, nhà, công trình
xây dựng gắn liền với đất đai và tài sản khác gắn liền với chúng.
-Thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án theo
lãnh thổ đối với các tranh chấp có đối tượng là BĐS như đã nêu trên thì chỉ Tòa
án nơi có BĐS có thẩm quyền giải quyết.
Theo quy định trên thì Tòa án nơi có
BĐS sẽ có điều kiện tốt nhất để tiến hành việc xác minh nguồn gốc đất, xem xét,
thẩm định tại chỗ tình trạng của BĐS, thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng
cứ… mà không cần phải ủy thác thu thập chứng cứ, mất nhiều thời gian và đôi khi
không đúng yêu cầu của Tòa án nơi ủy thác. Điều này tạo thuận lợi cho việc khởi
kiện, yêu cầu của đương sự cũng như việc thụ lý, giải quyết của Tòa án, Cơ quan
thi hành án, giúp cho việc giải quyết vụ, việc dân sự được nhanh chóng, kịp
thời.
Các loại tranh chấp sau đây được xác định là tranh chấp có đối tượng là đất đai (một
trong các loại BĐS) và thẩm quyền giải
quyết đối với các loại tranh chấp này sẽ do Tòa án nơi có BĐS giải quyết.
Cụ thể:
Thứ
nhất, tranh chấp
về quyền sử dụng đất (tranh chấp
về việc xác định ai là người có quyền sử dụng đất), gồm các loại sau:
1-Tranh chấp về ranh giới quyền sử dụng đất;
2-Tranh chấp do lấn, chiếm đất;
3-Tranh chấp đòi lại đất đã
được giao theo quy định của Nhà nước cho người khác sử dụng trong quá trình
thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước.
Thứ
hai, tranh chấp
về quyền khác đối với BĐS như:
1-Tranh chấp quyền về lối đi đối với BĐS liền kề (chủ
sử dụng đất liền kề phía trước không cho chủ sử dụng đất bị vây bọc phía trong
đi qua phần đất của mình để ra đường công cộng, rào lại lối đi);
2-Tranh chấp quyền về tưới nước, tiêu nước trong canh
tác;
3-Tranh chấp quyền về cấp, thoát nước qua BĐS liền
kề;
4-Tranh chấp về quyền thoát nước
thải, nước mưa.
2/
Tranh chấp liên quan đến BĐS :
Theo Điều 7 Mục III Công văn số 212/TANDTC-PC
ngày 13/9/2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc
trong xét xử.
Đối với trường hợp tranh chấp hôn nhân và gia đình có liên quan đến BĐS như: chia tài sản là BĐS trong
thời kỳ hôn nhân; khi ly hôn và sau khi ly hôn.
Theo đó, Tòa án nhân dân Tối cao đã theo hướng xác
định quan hệ tranh chấp này có đối tượng
không phải là BĐS nên không áp dụng điểm c khoản 1
Điều 39 BLTTDS năm 2015 thông qua cách giải thích như sau: “Theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của
Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì tranh chấp chia tài sản sau khi ly hôn
là tranh chấp về hôn nhân và gia đình”. Theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Tòa án nơi bị đơn
cư trú, làm việc, nếu bị đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị
đơn là cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm những
tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động
quy định tại các Điều 26, Điều 28, Điều 30 và Điều 32 của Bộ luật này.
Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt do vợ chồng đã ly hôn, nhưng tranh chấp tài sản sau ly hôn vẫn là tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nên căn cứ các quy định nêu trên thì Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc có thẩm quyền giải quyết.
|
Số: 1083/VKSTC-V9 |
ngày 26 tháng 3 năm 2024 |
Câu
23. Hiện có 02 quan điểm về thẩm quyền của Tòa án khi giải quyết tranh chấp hợp
đồng đặt cọc để chuyển nhượng quyền sử dụng đất: (1) Tòa án nơi có bất động sản; (2) Tòa án nơi cư trú của
bị đơn. Quan điểm nào là đúng? (VKS
Thành phố Hồ Chí Minh)
VKS tối cao Trả lời:
Trường hợp này, đối tượng tranh chấp là hợp đồng đặt cọc
chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 39 BLTTDS xác
định thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc hoặc theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Tòa án nơi hợp đồng được thực hiện) quy định
tại điểm g khoản 1 Điều 40 BLTTDS.
Trường hợp đối tượng tranh chấp là bất động sản thì Tòa án nơi có bất động sản có thẩm quyền giải quyết theo điểm c khoản 1 Điều 39 BLTTDS.
Như
vậy,
Đối với tranh chấp liên quan đến
giao dịch về quyền sử dụng đất, thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung
là quyền sử dụng đất khi ly hôn
thì được xác định theo thứ tự lần lượt là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ trong
giao dịch dân sự, tranh chấp về quan hệ thừa kế, quan hệ hôn nhân và gia đình
nên không xác định Tòa án nơi có BĐS có thẩm quyền giải quyết, mà việc xác định
thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ căn cứ vào quy định chung tại Điều 39, Điều
40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Tòa án nơi bị đơn cư trú, làm việc, nếu bị
đơn là cá nhân hoặc nơi bị đơn có trụ sở, nếu bị đơn là cơ quan, tổ chức
có thẩm quyền giải quyết hoặc theo sự thỏa thuận của đương
sự, sự lựa chọn của nguyên đơn.
|
Khái niệm Tranh chấp liên quan đến
Quyền sử dụng đất trong Đ.3, NQ 04/2017 của Tòa án Tối cao cũng tương đồng với khái niệm của VKS Tối cao. |
