Xác định Tư cách đương sự trong trường hợp thực hiện nghĩa vụ của người chết; người có quyền chết và kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng trong vụ án dân sự.
![]() |
Thông thường, các bên đương sự đều còn sống vào
thời điểm tranh chấp và giải quyết vụ án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 68 BTTDS
năm 2015: “Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ
chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan”. Như vậy, các đương sự trong vụ án dân sự khá phong phú
đa dạng. Có thể hiểu, đương sự trong vụ án dân sự là người tham gia tố tụng để
bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích
của nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách. Khi tham gia vào quá trình tố tụng
dân sự, các đương sự có quyền định đoạt quyền lợi của mình (Điều 5 BLTTDS)
Tuy nhiên, có 3 trường hợp đặc biệt xảy ra như sau:
(1)
Người có quyền lợi đã chết và quyền lợi này bị
xâm phạm khi chưa khởi kiện;
(2)
Người có nghĩa vụ chết và chưa thực hiện nghĩa
vụ, chưa bị khởi kiện;
(3)
Vụ án đang giải quyết và có Đương sự chết;
(1)
Người có quyền lợi đã chết và quyền lợi này bị xâm phạm khi chưa khởi kiện;
-Những người thừa kế hoặc người đại diện thừa kế
đứng ra khởi kiện;
VD1: Ông A cho ông C vay
500T, thời hạn vay đến hết tháng 8/2025. Tháng 6/2025 Ông A chết. Đến tháng
9/2025 thì bà B - vợ ông A biết giao dịch vay tiền này khi dọn dẹp hồ sơ. Bà B
đã liên hệ ông C đòi lại tiền cho vay nhưng C không trả vì chưa có tiền và cũng
cho rằng bà B khó mà đòi được số tiền này.
Trong trường hợp này xác định bà B có 50% quyền
trong khoản cho vay này và là người thừa kế 50% di sản do ông A để lại.
Bà B có quyền khởi kiện ông C với tư cách là
người thừa kế của ông A;
(2)
Người có nghĩa vụ chết và chưa thực hiện nghĩa vụ, chưa bị khởi kiện;
VD2: Ông C vay 500T của ông A, thời hạn vay đến tháng 6/2022, khi
đáo hạn, ông C chưa trả thì bị tai nạn giao thông và chết vào tháng 7/2022.
Tháng 9/2022 ông A cũng bị bệnh mà chết nên hầu như không ai biết giao dịch vay
tiền này. Đến tháng 9/2025 thì bà B - vợ ông A biết giao dịch vay tiền này khi
dọn dẹp nhà. Bà B đã liên hệ với con ông C đòi lại tiền cho vay nhưng họ không
trả vì cho rằng ba họ - ông C mới có nghĩa vụ trả tiền, giờ ông ấy chết thì
hết. Hỏi bà B có quyền khởi kiện con ông C để đòi tiền vay này được không ?
Trong trường hợp này xác định bà B có 50% quyền
trong khoản cho vay này và là người thừa kế 50% di sản do ông A để lại. Ông C
là người có nghĩa vụ nhưng đã chết.
Bà B có quyền khởi kiện con ông C với tư cách là
người thừa kế của ông A do:
-Quy định tại Điều 615 BLDS về thực hiện nghĩa vụ
tài sản do người chết để lại; theo đó, nếu ông C đã chết, có nghĩa vụ còn phải trả
là khoản vay của ông A và có để lại di sản thừa kế thì người thừa kế có
trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ tài sản
trong phạm vi di sản do ông C chết để lại.
-Như vậy, bà B có quyền khởi kiện con ông C (người thừa kế);
-Tuy nhiên, do ông C đã chết 6/2022, đến tháng
9/2025 mới khởi kiện thì đã hết thời hiệu thực hiện nghĩa vụ người chết là 03
năm theo khoản 3, Đ.623 BLTTDS. Do đó, nếu con ông C yêu cầu Tòa án áp dụng
thời hiệu khởi kiện theo điểm e, khoản 1, Đ.217 BLTTDS thì Tòa án phải Đình chỉ
vụ án.
(3) Nếu
đương sự đang tham gia tố tụng mà chết thì xử lý như thế nào?
a) Đương sự là cá nhân: Đối
với trường hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng mà chết thì Luật cũng
đã dự liệu và quy định trường hợp “Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng”.
Điều 74 BLTTDS 2015 quy định: “1. Trường
hợp đương sự là cá nhân đang tham gia tố tụng chết mà quyền, nghĩa vụ về tài
sản của họ được thừa kế thì người thừa kế tham gia tố tụng.”
Có thể hiểu một cách khái quát, tất cả quyền và
nghĩa vụ tố tụng của đương sự được chủ thể kế thừa tiếp nối và thực hiện, người
kế thừa tố tụng đó không nhân danh chính mình mà nhân danh đương sự đã chết (đối với đương sự là cá nhân).
VD3: Ông A
có vợ là bà B và hai con là M và N. Ông A có cho con là N một phần đất. Sau đó,
giữa hai bên phát sinh mâu thuẫn nên ông A có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy
hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất với ông N.
Theo đơn khởi kiện, Tòa án xác định ông A là
nguyên đơn và ông N là bị đơn. Vấn đề đặt ra là trong quá trình giải quyết vụ
án, ông A chết. Vậy sau khi ông A chết, thì ai là người thừa kế quyền và nghĩa
vụ tố tụng của ông A?
-Theo Đ.74 BLTTDS thì người kế thừa tố tụng là
người thừa kế, gồm : bà B, ông M và ông
N.
Vậy, ông N đang là bị đơn, N có tham gia tố tụng
với tư cách người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của nguyên đơn là ông A hay
không?
Có quan điểm thứ nhất cho rằng: Ông N tham gia tố
tụng với hai tư cách là vừa là bị đơn vừa là người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố
tụng của ông A theo quy định tại Điều 74
BLTTDS. Trong trường hợp này, ông A mất thì phải đưa tất cả người
thừa kế của ông A vào tham gia tố tụng với tư cách là người kế thừa quyền,
nghĩa vụ tố tụng của ông A, cụ thể, phải đưa vợ ông A là bà B và hai con là M, N
vào tham gia tố tụng.
Quan điểm thứ hai cho rằng: Ông N
chỉ tham gia tố tụng với tư cách là bị đơn, không được xác định tham gia tố
tụng với tư cách người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A. Bởi
vì, khoản 1 Điều 87 BLTTDS năm 2015 quy định những trường hợp không được làm
người đại diện như sau:
“1. Những người sau đây không được làm người
đại diện theo pháp luật:
a. Nếu họ cũng là đương sự trong cùng một vụ
việc với người được đại diện mà quyền và lợi ích hợp pháp của họ đối lập với
quyền và lợi ích hợp pháp của người được đại diện”.
Do đó, ông N không được tham gia tố tụng với tư
cách là người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông A do quyền và
lợi ích hợp pháp giữa ông A và ông N đối lập với nhau. Như vậy, chỉ xác định
người kế thừa quyền và lợi ích hợp pháp của ông A gồm bà B và ông M.
b) Đương
sự là pháp nhân: Khi người đại diện PL chết à có người đại diện khác thay thế;
Nếu pháp nhân đang tranh tụng mà rơi vào trường
hợp đang giải thể, phá sản thì thủ tục giải thể, phá sản phải dừng lại để xử lý
xong tranh chấp. Khi nào đã bị giải thể , phá sản mà không còn ai (cơ quan, tổ
chức, cá nhân) kế thừa thì chấm dứt
