Có 4 yếu tố cần và đủ để đưa ra lập luận bảo vệ người thứ ba ngay tình trong tranh chấp quyền sử dụng đất.
![]() |
|
Quyền về Tài sản: |
Quyền quản lý |
Quyền sử dụng |
Quyền định đoạt |
|
Quyền Sở hữu đối với Tài Sản của cá nhân, pháp nhân – không phải
là Đất |
X |
X |
X |
|
Đối với đất đai: Quyền Sở hữu
thuộc về Toàn dân |
Nhà nước thống nhất quản lý. Người có đất quản lý nội bộ |
-Có quyền sử dụng nếu nguồn gốc hợp pháp nhưng chưa
có GCN. - Có quyền sử dụng nếu có GCN mà không tranh chấp,
THA -Có quyền SDĐ nếu thông qua giao dịch hợp pháp:
thuê, mượn, nhận cầm cố |
Có, đó là quyền phái sinh từ quyền SDĐ hợp pháp và
phải có GCN hợp pháp. -Nếu đang quản lý, sử dụng mà chưa có GCN thì khi muốn
bán/CN phải làm sao? |
1/Đất này có nguồn gốc
rõ ràng, hợp pháp và đã được cấp GCN (không có tranh chấp, không kê biên
THA): sau đó mang đi giao dịch – Thực hiện các quyền dân sự (chuyển nhượng,
chuyển đổi, thừa kế, tặng cho, chia, góp vốn, thế chấp, cầm cố … quyền SDĐ) dẫn
đến tranh chấp: Thông thường, người dân sẽ gọi là Tranh chấp Quyền SDĐ , tuy nhiên bản chất là tranh chấp Giao dịch đang xảy ra
chứ không
phải là tranh chấp Quyền SDĐ vì đã biết ai có quyền SDĐ.
VD1: A nhờ B đứng tên mua hộ lô đất số 10
của Cty N (đất dự án), có thỏa thuận nhờ đứng tên dùm, có chuyển tiền rõ ràng .
Sau đó, khi A cần B giao trả lại thì B không đồng ý vì cho rằng lô đất này mình
đứng tên nên mình mới là người có quyền.
A Khởi kiện B ra Tòa để Tranh
chấp Quyền SDĐ = Bản chất là đòi tài sản nhờ đứng tên chứ không phải là tranh chấp Quyền SDĐ do chưa biết đất
của ai. Thực tế cho thấy đất này có nguồn gốc Dự án của Cty N (không có tranh
chấp), Cty N chuyển nhượng cho B và HĐ chuyển nhượng này hợp pháp. Do đó, Tòa sẽ
tuyên B có quyền đối với lô đất này, trả tiền cho A HOẶC sẽ tuyên B trả lại lô
đất cho A (tùy theo chứng cứ chứng minh) chứ KHÔNG TUYÊN là B hay A có quyền
SDĐ.
2/ Đất này có nguồn gốc của M (hoặc của N
hay của UB xã đã đăng ký) nhưng Cơ quan có thẩm quyền cấp GCN cho K vì K
đã kê khai (gian dối) khi Nhà nước yêu cầu, còn M vẫn đang quản lý, sử dụng vì nghĩ rằng đất của mình. ( 1 người giữ
GCN, 1 người giữ đất)
2.1. Khi M biết K được cấp GCN thì kiện đòi tài sản và
tranh chấp này sẽ gọi là: Tranh chấp quyền SDĐ vì
Tòa chưa biết nguồn gốc đất này của ai (của M hay của K hay của N hay UB xã . .
. ), đồng thời M yêu cầu tuyên HỦY GCN đã cấp
cho K.
2.2 Sau khi K được cấp GCN, do biết
đất không phải của mình nên bán rẻ cho T; 2 bên đã ra VPCC ký hợp đồng chuyển nhượng và thanh toán xong, K ôm tiền biến
mất.
Lúc này xảy ra các trường
hợp sau:
(i) Do M vẫn đang canh tác, quản lý, sử dụng
đất nên khi T tìm đến lô đất thì biết còn ông M đang ở đây nên T đem HS đi đăng bộ sang tên mình (đã
hoàn thành). Khi M biết T đang đứng tên GCN thì M có đòi lại được Quyền SDĐ
không ? Có yêu cầu tuyên Hủy quyết định cá biệt là hủy GCN không ?
Trả lời là:
ĐƯỢC, vì T không phải là người thứ 3 ngay
tình. Tòa sẽ tuyên M là người có
quyền SDĐ và đề nghị Cơ quan có thẩm quyền cấp GCN cho M, đồng thời hủy GCN đã
cấp cho T.
Như vậy, GCN cấp cho K được xem là cấp lần đầu
à Đây là quyết định cá biệt
GCN cấp
cho T không phải là cấp lần đầu mà thông qua Hợp đồng chuyển nhượng Công chứng à Tuyên Hợp đồng chuyển nhượng Công chứng
vô hiệu.
(ii) Do M bỏ hoang đất nên K làm biên bản
bàn giao đất cho T, T đến đó canh tác, sử
dụng đất , đem HS đi đăng bộ sang
tên mình xong. Khi M biết T đang đứng tên GCN thì M có đòi lại được Quyền
SDĐ không ? Có yêu cầu tuyên Hủy quyết định cá biệt là hủy GCN không ?
Trả lời là:
KHÔNG, vì T là người thứ 3 ngay tình. Tòa sẽ tuyên T là người có quyền đối với khu đất
và bác yêu cầu KK của M.
Vậy lúc này M sẽ làm gì ? M chỉ còn quyền kiện K cùng với chủ
thể có lỗi (Cơ quan cấp GCN) để đòi bồi thường. CSPL là khoản 3, Đ.133 BLDS 2015
Như vậy, để bảo vệ người thứ 3 ngay tình trong giao dịch về
Đất đai cần:
1/Có HĐ chuyển nhượng hợp pháp:
có công chứng, chứng thực; (không vi phạm
quyền sở hữu, sử dụng theo GCN)
2/Đã thanh toán đầy đủ hoặc ít
nhất là trên 2/3 giá trị; (không giảm
giá, trốn thuế)
3/Đã nhận tài sản, quản lý sử dụng
tài sản đúng mục đích; (có biên bản
bàn giao, đang sử dụng công khai, liên tục tài sản đó)
4/Đã hoàn tất việc đăng bộ sang tên.
(cập nhật biến động thông tin hay cấp đổi
GCN mới)
Nếu thiếu 1 trong 4 yếu tố
trên thì KHÔNG ĐƯỢC XEM LÀ NGAY TÌNH.
Tham khảo Hướng dẫn của Tòa án tối
cao liên quan đến Đ.34 BLTTDS; Giao dịch vô hiệu và người thứ 3 ngay tình:
|
Công văn số 64/TANDTC-PC ngày
03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao Tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự quy
định: “...2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã
được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay
tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch
thì giao dịch đó không
bị vô hiệu. Trường hợp tài sản phải đăng ký mà chưa được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền thì giao dịch dân sự với người thứ ba bị vô hiệu, trừ trường hợp người
thứ ba ngay tình nhận được tài sản này thông qua bán đấu giá tại tổ chức có thẩm quyền hoặc giao dịch với người mà theo bản án, quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền là chủ sở hữu tài sản
nhưng sau đó chủ thể này không phải là chủ sở hữu tài sản do bản án, quyết
định bị hủy, sửa. …” Theo Bản thuyết minh Dự án Bộ luật Dân sự năm 2015 của
Ban soạn thảo thì quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự là
nhằm: “...Bảo
đảm công bằng, hợp lý đối với người thiện chí, ngay tình và bảo đảm sự ổn định trong các
quan hệ dân sự (các Bộ luật dân sự trên thế giới đều ghi nhận việc bảo vệ người thứ ba
ngay tình trong giao dịch dân sự)...”. Cho nên, cụm từ “chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2
Điều 133 của Bộ luật Dân sự phải được áp dụng theo nghĩa rộng. Có nghĩa là: Không chỉ
có những giao dịch nhằm chuyển giao quyền sở hữu như: Hợp đồng mua bán, tặng cho, đổi, góp vốn nhà ở;
chuyển nhượng, chuyển đổi, góp vốn bằng quyền sử dụng đất... mà cả những giao
dịch nhằm chuyển giao những quyền về sở hữu đối với tài sản hoặc quyền
về sử dụng đối với thửa đất. Đồng thời, thế chấp tài sản là một biện pháp bảo đảm,
theo quy định tại Điều 317 của Bộ luật Dân sự thì nội hàm của thế
chấp tài sản là việc người thế chấp dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận thế chấp mà không giao tài sản đó cho
bên nhận thế chấp. Tuy nhiên, tại khoản 6 Điều 320 của Bộ luật Dân
sự quy định nghĩa vụ của bên thế chấp tài sản là: “Giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp
để xử lý khi thuộc một trong các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm quy định tại Điều 299 của Bộ luật này...”; khoản
7 Điều 323 của Bộ luật Dân sự quy định quyền của bên nhận thế chấp: “Xử lý tài sản thế chấp
khi thuộc trường hợp quy định tại Điều 299 của Bộ luật này”. Như vậy, mục
đích của thế chấp là người có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đối với bên nhận
thế chấp, trong trường hợp nghĩa vụ đó không được bên thế chấp thực hiện hoặc
thực hiện không đúng thì phải giao tài sản đã thế chấp cho bên nhận thế chấp xử lý nhằm bảo
đảm quyền lợi của bên nhận thế chấp. Vì vậy, phải xem thế chấp tài sản là một giao dịch chuyển giao tài sản có điều
kiện; để bảo đảm quyền lợi
cho bên nhận thế chấp ngay tình thì phải hiểu quy định “chuyển giao
bằng một giao dịch dân sự khác” tại khoản 2
Điều 133 của Bộ luật Dân sự được áp dụng cả trong trường hợp giao dịch
về thế chấp tài sản. Cho nên, trường hợp giao dịch chuyển nhượng nhà đất bị vô hiệu nhưng bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất và đã thế chấp nhà, quyền sử dụng đất đó cho Ngân hàng theo đúng quy định của pháp luật thì giao dịch thế chấp đó không vô hiệu. |
|
Giải đáp số 02 ngày 02/8/2021 của HĐTP TATC III. VỀ DÂN SỰ 1.
Nhà đất thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông A, bà B. Ông A làm giả chữ ký của
bà B để chuyển nhượng nhà đất cho C (việc giả chữ ký đã được chứng minh thông
qua việc giám định). Sau khi chuyển nhượng, ông A, bà B vẫn chiếm hữu, sử
dụng nhà đất. Sau đó, C dùng tài sản này để thế chấp khoản vay tại Ngân hàng.
Vậy, giao dịch thế chấp tại Ngân hàng có bị vô hiệu không? Nếu vô hiệu thì có
trái với mục 1
Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC ngày
03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao về việc
thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc về hình sự, dân sự, tố
tụng hành chính (sau đây gọi tắt là Công văn số 64/TANDTC-PC) không? Điều 123 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giao
dịch dân sự có mục đích, nội dung vi phạm điều cấm của luật, trái đạo đức xã
hội thì vô hiệu. Điều
cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện
những hành vi nhất định. Đạo
đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng
đồng thừa nhận và tôn trọng”. Khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm
2015 quy
định: “Trường hợp giao dịch vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại
cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó
được chuyển giao bằng một giao dịch dân sự khác cho người thứ ba ngay tình và
người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu”. Trường hợp này, việc ông A giả chữ ký của bà B để
chuyển nhượng nhà đất cho C mà
không được bà B đồng ý, nên căn cứ Điều 123 của Bộ luật
Dân sự năm 2015 thì giao dịch chuyển nhượng nhà đất trên là vô hiệu. Sau khi nhận chuyển nhượng, C dùng tài sản này thế chấp khoản vay tại Ngân hàng nhưng khi ký hợp đồng thế chấp tài sản, Ngân hàng không thẩm định, xác minh nên không biết ông A, bà B vẫn quản lý, sử dụng nhà đất hoặc đã thẩm định nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh ông A, bà B biết việc thế chấp tài sản này. Trong trường hợp này, bên nhận thế chấp tài sản (Ngân hàng) không phải là người thứ ba ngay tình theo quy định tại khoản 2 Điều 133 của Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1 Phần II của Công văn số 64/TANDTC-PC, do vậy, hợp đồng thế chấp tài sản cũng vô hiệu. |
|
Công
văn số 64/TANDTC-PC ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân
dân tối cao II.
Về dân sự 2.
Trường hợp, trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng, chuyển đổi, tặng cho quyền sử
dụng đất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đó cho
người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất.
Sau đó, các bên tranh chấp và Tòa án xét thấy hợp đồng nói trên bị vô hiệu hoặc chấp nhận yêu cầu
hủy bỏ, như vậy khi giải quyết Tòa án có phải áp dụng Điều 34 của
Bộ luật Tố tụng dân sự đưa những cơ quan đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng
đất đó tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan
để xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người nhận chuyển nhượng, nhận chuyển
đổi, nhận tặng cho quyền sử dụng đất không? Nhiệm vụ của Bộ luật Tố tụng dân sự là giải quyết vụ
việc dân sự được nhanh chóng, chính xác, công minh và đúng pháp luật, bảo vệ
lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá
nhân... Trên cơ sở đó, Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân
sự quy định khi giải quyết các vụ việc dân sự, mà trong vụ việc đó
có quyết định cá biệt của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền trái pháp
luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự và nội dung của quyết
định đó liên quan đến vụ việc Tòa án giải quyết thì Tòa án phải hủy quyết
định đó để khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. “Quy
định này tạo cơ sở cho Tòa án chủ động trong việc hủy quyết định cá biệt trái
pháp luật có ảnh
hưởng tới quyền
lợi hợp pháp của đương sự, nhằm giải quyết vụ việc dân sự một cách chính xác,
toàn diện ”. (Mục 3 Bộ luật Tố tụng dân sự ngày
10-4-2015 của Tòa án nhân dân tối cao). Tại mục 1 Phần I của Công văn số 02/GĐ-TANDTC ngày 19-9-2016 của Tòa án nhân dân tối cao về Giải đáp nghiệp vụ đã hướng dẫn: “Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là quyết định hành chính...” cá biệt. Như vậy, theo quy định tại Điều 34 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trong đó có việc cơ quan nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với thửa đất đang tranh chấp không đúng, gây thiệt hại đến quyền lợi của đương sự thì Tòa án phải đưa cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và xem xét hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó. Tuy nhiên, tại điểm d khoản 2 của Điều 106 của Luật Đất đai (2013) quy định cơ quan cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất không được thu hồi giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất trong trường hợp “...người được cấp
Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài
sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai...”. Theo Điều
195 của Luật Đất đai thì trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận hoặc
xác nhận nội dung biến động do chuyển
quyền sử dụng đất do Chính phủ quy định.
Điều 79 của Nghị định số
43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ quy định việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất do chuyển quyền dựa trên cơ sở hồ sơ hợp đồng, Văn phòng đăng ký đất đai có trách nhiệm
kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì xác
nhận nội dung biến động vào Giấy chứng nhận đã cấp hoặc lập hồ sơ trình cơ
quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Như vậy, theo quy định
của Luật Đất đai và Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ
thì việc cấp lại Giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất hoặc xác nhận nội
dung biến động trong trường hợp
thực hiện hợp đồng (các trường hợp quy định tại khoản
3 Điều 105 của Luật Đất đai) là thủ tục hành chính
trong giao dịch dân sự, không mang tính chất của quyết
định hành chính cá biệt; cơ quan, tổ chức có thẩm quyền sẽ thực
hiện việc đăng ký biến động, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên
cơ sở kết quả giao dịch có hiệu lực. Cho nên, khi giải quyết tranh chấp về
hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất mà hợp đồng đó bị vô hiệu, nhưng người nhận
chuyển quyền đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đã được xác
nhận nội dung biến động thì không đưa cơ quan có thẩm quyền trong việc
cấp giấy tham gia tố tụng và không
cần phải tuyên hủy giấy chứng nhận cấp cho người nhận chuyển nhượng. Khi Tòa án tuyên hợp đồng chuyển quyền sử
dụng đất vô hiệu thì Văn phòng đăng ký đất đai, cơ quan Tài nguyên và Môi
trường căn cứ vào bản án, quyết định của Tòa án để giải quyết điều chỉnh biến động hoặc cấp
lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với kết quả giải quyết của Tòa
án. |
